Lịch sử Bình Phước qua tài liệu lưu trữ

Thứ năm - 18/07/2019 16:40 93 0
Tỉnh Bình Phước là tỉnh miền núi thuộc miền Đông Nam Bộ, phía Đông giáp tỉnh Đắk Nông và Lâm Đồng, phía Nam giáp tỉnh Đồng Nai và Bình Dương, phía Tây giáp tỉnh Tây Ninh, phía Bắc và Tây Bắc giáp nước bạn Campuchia, với chiều dài biên giới 260,43 km, diện tích tự nhiên 6.871,54km2, dân số 950,880 người (số liệu tính đến 31/12/2005), có 41 dân tộc anh em cùng sinh sống. Tỉnh Bình Phước có 11 đơn vị hành chính cấp huyện (gồm 8 huyện và 3 thị xã) với 111 xã, phường, thị trấn.
Dưới triều Nguyễn, Bình Phước là vùng đất thuộc trấn Biên Hòa. Đến giữa thế kỷ XIX sau khi thực dân Pháp đánh chiếm và đặt nền cai trị tại 6 tỉnh Nam Kỳ. Bình Phước thuộc khu vực Sài Gòn. Năm 1889, thực dân Pháp đổi các tiểu khu thành tỉnh thì Bình Phước thuộc địa phận phía Bắc tỉnh Biên Hòa và tỉnh Thủ Dầu Một. Sau năm 1954, do ý  đồ cai trị của thực dân Pháp, Bình Phước lại bị chia cắt sáp nhập nhiều lần. Đến cuối năm 1972, Trung ương cục Miền Nam quyết định thành lập tỉnh Bình Phước bao gồm hai tỉnh Bình Long và Phước Long. Sau khi cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước cứu nước thắng lợi. Ngày 02/7/1976, Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam ra quyết định sáp nhập các tỉnh Thủ Dầu Một, Bình Phước và 3 xã An Bình, Bình An, Đông Hòa (thuộc huyện Thủ Đức) thành tỉnh Sông Bé. Ngày 01/01/1997, tỉnh Bình Phước được tái lập bao gồm 5 huyện phía Bắc thuộc tỉnh Sông Bé cũ, tỉnh lỵ đặt tại Đồng Xoài.
Với vị trí địa lý chiến lược và tài nguyên thiên nhiên phong phú, nên từ rất sớm Bình Phước đã trở thành địa bàn quần tụ của các cộng đồng dân cư và nơi giao lưu của các nền văn hóa nội địa Đông Nam á.
Trải qua những thăng trầm biến thiên của lịch sử, cộng đồng dân cư Bình Phước đã đoàn kết, kiên cường đấu tranh khai hoang lập ấp, đánh đuổi thực dân, đế quốc để biến vùng đất hoang vu với bạt ngàn núi rừng ở miền biên viễn thành vùng đất trù phú, trở thành một tỉnh nằm trong vùng kinh tế trọng điểm của phía Nam Tổ quốc.
Với chức năng, nhiệm vụ được giao. Trong thời gian qua, thực hiện Kế hoạch 76/KH-UBND ngày 7/4/2015 của UBND tỉnh về “Kế hoạch sưu tầm, thu thập tài liệu lưu trữ quý, hiếm, tài liệu lưu trữ lịch sử tỉnh Bình Phước qua các thời kỳ”. Chi cục Văn thư – Lưu trữ đã tổ chức sưu tầm thu thập được một số tài liệu có giá trị lịch sử liên quan đến quá trình hình thành, đấu tranh, xây dựng và bảo vệ quê hương Bình Phước từ các Trung tâm lưu trữ Quốc gia (II, III, IV) và các đơn vị bạn. Số tài liệu trên đã thể hiện được những nội dung quan trọng về lịch sử Bình Phước sau đây:
Phần 1:Bình Phước qua các thời kỳ lịch sử
1. Bình Phước thời kỳ nhà Nguyễn
Với vị trí địa chiến lược và nguồn tài nguyên thiên nhiên phong phú, từ rất sớm vùng đất Bình Phước đã là nơi cộng cư của cộng đồng các dân tộc tại chỗ. Kết quả khảo cổ học cho biết, từ cách nay 3.000 năm, Bình Phước đã là địa bàn cư trú của cộng đồng các dân tộc tại chỗ như Mạ, S’Tiêng,… với những nét văn hóa mang sắc thái đặc trưng, góp phần khẳng định bề dày, sự phát triển rực rỡ của phức hệ văn hóa tiền sử nơi đây. Nhưng trải qua nhiều biến thiên của lịch sử, đến trước thế kỷ thứ XVI, vùng đất Bình Phước vẫn còn là một vùng rừng núi rậm rạp, cư dân chủ yếu là các tộc người thiểu số sống rải rác men các triền núi.
Đến cuối thế kỷ XVI đầu thế kỷ XVII, cùng với công cuộc Nam tiến của dân tộc, từng lớp người Việt đến khai hoang, vỡ đất trên dải đất biên viễn xa xôi, hoang sơ, lập nên những xóm làng đầu tiên.
Những trang sử về quá trình gian khổ đấu tranh với thiên nhiên và xác lập chủ quyền của Đại Việt trên vùng đất Bình Phước hiện còn được lưu giữ trong Mộc bản triều Nguyễn – Di sản tư liệu thế giới và trong chính sử triều Nguyễn.
Từ sự kiện năm 1698, Trên cơ sở đó, năm 1698, Minh Vương Nguyễn Phúc Chu sai Thống suất Nguyễn Hữu Cảnh vào Nam kinh lược, chính thức xác lập đơn vị hành chính của Đại Việt tại vùng đất mới. Tại vùng đất đỏ miền Đông Nam bộ, Nguyễn Hữu Cảnh cho đặt huyện Phước Long, thuộc dinh Trấn Biên, lãnh 4, tổng Tân Chánh, Bình An, Long Thành và Phước An. Theo đó, vùng đất Bình Phước nằm ở phần đất phía trên của tổng Bình An, huyện Phước Long, dinh Trấn Biên, phủ Gia Định.
Tiếp đến, năm 1802, lên ngôi hoàng đế, vua Gia Longchia đất nước thành 4 doanh, 23 trấn. Năm 1808, nhà vua cải tổ địa giới hành chính Việt Nam, từ Bình Thuận trở vào gọi là Gia Định gồm 5 trấn, 4 phủ và 15 huyện. Bình Phước thuộc huyện Phước Long, trấn Biên Hòa.
Năm 1832, vua Minh Mạng đổi trấn làm tỉnh, chia Nam kỳ thành sáu tỉnh – còn gọi là Nam kỳ lục tỉnh, địa bàn Bình Phước thuộc huyện Bình An, phủ Phước Long của tỉnh Biên Hòa.
Năm 1851, vua Tự Đức phân chia Nam Kỳ thành 3 quận, tỉnh Biên Hòa thuộc quận Định Biên, nhưng về cơ bản địa giới hành chính vùng đất Bình Phước vẫn được giữ nguyên như các triều đại trước.
Như vậy, trên cơ sở khai phá của các cư dân Việt, các chúa Nguyễn chính thức xác lập chế độ hành chánh ở vùng đất Nam bộ, nhưng phải đến thời vua Gia Long, vùng đất Bình Phước mới chính thức ghi dấu trên bản đồ hành chánh Việt Nam.
2. Bình Phước thời kỳ Pháp thuộc
Năm 1858, tiến hành cuộc chiến tranh xâm lược thuộc địa ở Việt Nam, thực dân Pháp nổ súng đánh chiếm bán đảo Sơn Trà – Đà Nẵng. Ngày 2-2-1859, sau thời gian sa lầy ở Đà Nẵng, tướng Rigault de Genouilly kéo quân đánh Nam kỳ. Và đến năm 1861, ba đạo quân Pháp, bằng hai đường thủy, bộ vượt sông Sài Gòn đánh chiếm huyện Bình An, phủ Phước Long. Do tư tưởng chủ hòa của triều đình nhà Nguyễn, vùng đất Bình Phước  và toàn tỉnh Biên Hòa nhanh chóng lọt vào tay giặc.
Sau khi chiếm trọn 3 tỉnh miền Đông Nam Bộ, ngày 5-6-1862, thực dân Pháp bắt tay vào tổ chức lại bộ máy hành chính ở vùng đất này: năm 1864 chia miền Đông Nam Bộ thành 7 khu vực chỉ huy. Năm 1865, chính quyền thực dân chia Nam Kỳ thành 13 tham biện. Riêng tỉnh Biên Hòa được chia thành các tham biện: Biên Hòa, Thủ Dầu Một (địa bàn tỉnh Bình Dương và Bình Phước ngày nay), Long Thành, Bà Rịa.
Ngày 20-12-1899, chính quyền thực dân Pháp ban hành nghị định đổi các Sở Tham biện thành tỉnh, người đứng đầu tỉnh gọi là Quan cai trị - Chủ tỉnh (Administrateur – Chef de Province). Lúc này, toàn xứ Nam Kỳ được chia làm 22 tỉnh. Vùng miền Đông Nam bộ gồm 4 tỉnh Tây Ninh, Thủ Dầu Một, Biên Hòa và Bà Rịa. Vùng đất Bình Phước nằm trong địa bàn tỉnh Thủ Dầu Một, có hai lỵ sở là Chơn Thành và Hớn Quản. Tổ chức hành chính khu vực này tồn tại cho đến 1954.
Tài liệu về tổ chức hành chính vùng đất Bình Phước thời Pháp thuộc được Chi cục Văn thư – Lưu trữ sưu tầm từ Trung tâm Lưu trữ quốc gia II quản lý. Gồm:
- Bản Hiệp ước Giáp Tuất năm 1874 (còn có tên là Hiệp ước hòa bình và liên minh tại Sài Gòn) ký giữa triều đình Huế và Pháp, trong đó triều Nguyễn công nhận quyền cai trị của người Pháp ở Nam kỳ.
- Các nghị định, quyết định của chính quyền thực dân Pháp về việc tổ chức hành chính Nam kỳ và vùng đất Bình Phước trong địa giới tỉnh Biên Hòa và Thủ Dầu Một.
Ngay sau khi hoàn tất bình định, thực dân Pháp bắt tay vào công cuộc khai thác thuộc địa Nam kỳ. Ở miền Đông Nam bộ mà một trong những trọng điểm là khu vực Bình Phước, thực dân Pháp ra sức mộ phu, bắt lính, bắt tù nhân tiến hành công cuộc khẩn hoang, lập đồn điền trồng cây cao su. Vì thế, trên địa bàn tỉnh Bình Phước hình thành nên những đồn điền cao su rộng lớn hàng chục nghìn héc ta như Thuận Lợi, Quản Lợi, Xa Cam, Xa Trạch và tại thị trấn Hớn Quản, có tiếng cả khu vực Đông Dương.
3. Bình Phước thời kỳ 1954-1975
Năm 1954, Hiệp định Giơ-ne-vơ về đình chỉ chiến sự ở Việt Nam được ký kết, thực hiện chiến lược ngăn chặn chủ nghĩa cộng sản tại khu vực Đông Nam á, Hoa Kỳ đưa Ngô Đình Diệm về Sài Gòn lập ra cái gọi là Việt Nam Cộng hòa bao trùm toàn bộ lãnh thổ miền Nam Việt Nam, âm mưu chia cắt lâu dài đất nước ta. Lên cầm quyền, chính quyền Ngô Đình Diệm tiến hành cải tổ nền hành chính toàn miền Nam. Ngày 22-10-1956, Ngô Đình Diệm ký Sắc lệnh số 143-NV phân chia miền Nam thành 23 đơn vị hành chính gồm: Đô thành Sài Gòn và 22 tỉnh. Theo đó, vùng đất Bình Phước thuộc các tỉnh Bình Long, Phước Long và một phần tỉnh Phước Thành. Tổ chức hành chính như trên, về cơ bản được chính quyền Sài Gòn giữ nguyên cho đến ngày chế độ này sụp đổ (30-4-1975).
Về phía cách mạng, theo quá trình phát triển của công cuộc kháng chiến, tổ chức chiến trường và hành chính vùng đất Bình Phước có nhiều sự thay đổi. Trong 20 năm đầu của cuộc kháng chiến chống Mỹ, chính quyền cách mạng duy trì quản lý hành chính vùng đất Bình Phước theo đơn vị hành chính tỉnh Thủ Dầu Một. Đến ngày 30-1-1971, theo quyết định của Trung ương Cục miền Nam, phân khu Bình Phước chính thức được thành lập, địa danh Bình Phước mới chính thức có tên trong lịch sử Việt Nam.
4. Bình Phước từ sau ngày giải phóng đến nay
Ngày 30-4-1975, chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử kết thúc thắng lợi vẻ vang, Nam – Bắc sum họp một nhà, đất nước hoàn toàn thống nhất. Tại kỳ họp thứ nhất, ngày 2-7-1976, Quốc hội khóa VI, Quốc hội nước Cộng hòa xã hội Chủ nghĩa Việt Nam quyết định thành lập tỉnh Sông Bé trên cơ sở sát nhập tỉnh Thủ Dầu Một, Bình Phước và 3 xã thuộc quận Thủ Đức (Tp.HCM).
Đến ngày 1-1-1997, để phù hợp với điều kiện phát triển kinh tế - xã hội, tỉnh Bình Phước được tái lập gồm 5 huyện phía bắc tỉnh Sông Bé, gồm: Đồng Phú, Bình Long, Lộc Ninh, Phước Long và Bù Đăng. Tỉnh lỵ đặt tại thị trấn Đồng Xoài. Trải qua hơn 20 năm tái lập, tổ chức hành chính tỉnh Bình Phước có nhiều sự thay đổi và được kiện toàn. Đến nay, Bình Phước bao gồm 3 thị xã và 8 huyện với 5 thị trấn, 14 phường và 92 xã.
Tổ chức hành chính từng bước được kiện toàn là nền tảng quan trọng để Bình Phước xây dựng hệ thống cơ sở hạ tầng, tạo điều kiện cho giao thương, giao lưu kinh tế - văn hóa – xã hội, phát triển với một diện mạo mới.
Phần 2: Bình Phước kháng chiến chống Pháp
Du nhập cây cao su vào vùng Đông Nam Bộ, thực dân Pháp đã mộ phu, bắt lính, bắt tù nhân, dân nghèo tiến hành khai khẩn đất hoang, rừng rậm biến thành các đồn điền cao su. Cùng với sự lớn lên của cây cao su thì người phu nghèo, tù nhân… trong các đồn điền này cũng tàn dần thân xác.
Quá trình hình thành và phát triển các đồn điền cao su của thực dân Pháp gắn liền với việc cướp đoạt đất đai, nương rẫy của đồng bào các dân tộc và bóc lột thậm tệ đối với công nhân. Từ áp bức và bóc lột cùng cực của chủ đồn điền và lũ tay sai, đã buộc người công nhân cao su đoàn kết với các dân tộc S’tiêng, M’nông, Châu Mạ, Châu Ro… đứng lên chống lại để bảo vệ quyền sống của mình. Những cuộc khởi nghĩa do các anh hùng dân tộc thiểu số liên tiếp nổ ra như: khởi nghĩa của ông Điểu Dố (người S’tiêng); ông Rít Đinh phối hợp với ông R’ôngleng chủ làng M’nông,  hai anh em Điển Môn và Điển Mốt người sóc Bù Xum….
Quá trình đấu tranh chống thực dân Pháp xâm lược của cộng đồng dân cư Bình Phước vẫn được ghi dấu đậm nét trong các trang sử hào hùng của dân tộc và địa phương.
Thập niên 20 của thế kỷ XX, phong trào yêu nước của dân tộc được thổi làn gió mới, tư tưởng cách mạng vô sản được truyền bá ngày càng sâu rộng vào Việt Nam. Ba tổ chức cộng sản ở Việt Nam ra đời, lãnh đạo nhân dân đấu tranh giải phóng dân tộc. Ở vùng đất Bình Phước, ngày 28-10-1929, Chi bộ Phú Riềng Đỏ được thành lập đánh dấu bước ngoặt lịch sử trong phong trào đấu tranh cách mạng địa phương nói chung và của đội ngũ công nhân cao su nói riêng, ghi dấu son chói lọi vào lịch sử vẻ vang của giai cấp công nhân Việt Nam.
Những năm từ 1930-1945, dưới sự lãnh đạo của các tổ chức Đảng, quân dân Bình Phước đoàn kết, một lòng theo Đảng đứng lên đấu tranh giải phóng quê hương và góp phần to lớn vào các phong trào chung của cả nước.
Tài liệu mà Chi cục Văn thư – Lưu trữ sưu tầm được là một số truyền đơn tiêu biểu, kêu gọi quần chúng nhân dân đứng lên chống chính quyền thực dân Pháp nô dịch từ những năm 1930 đến 1945 và các báo cáo của chính quyền thực dân Pháp về hoạt động, các cuộc đấu tranh của quân và dân Bình Phước trong những năm kháng chiến chống Pháp.
Năm 1945, trước sự chuyển biến mau lẹ của tình hình thế giới và trong nước, Trung ương Đảng đề ra chỉ thị “Nhật – Pháp bắn nhau và hành động của chúng ta”. Ngày 13-8-1945, Ủy ban khởi nghĩa ra Quân lệnh số 1, kêu gọi toàn dân nhất tề đứng lên cướp chính quyền. Quán triệt tinh thần Quân lệnh số 1, quân dân Bình Phước nhất tề xông lên cướp chính quyền, giải phóng quê hương, góp phần làm nên thắng lợi vẻ vang của Cách mạng tháng Tám năm 1945. Ngày 2-9-1945, Bác Hồ đọc Tuyên ngôn độc lập, khai sinh ra nước Việt Nam dân chủ cộng hòa, mở ra trang sử mới trong lịch sử dân tộc Việt Nam.
Tuy nhiên, chưa từ bỏ dã tâm, đêm 22 rạng ngày 23-9-1945, thực dân Pháp nổ súng vào Ủy ban kháng chiến Nam bộ, mở đầu cuộc chiến tranh xâm lược nước ta lần thứ 2. Quân dân Bình Phước một lần nữa cùng toàn miền, tầm vông vạt nhọt, đoàn kết, kiên cường chiến đấu, bảo vệ quê hương, góp phần cùng cả dân tộc làm nên thắng lợi vĩ đại, kết thúc vẻ vang 9 năm kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược.
      Phần 3: Bình Phước kháng chiến chống Mỹ cứu nước
Năm 1954, lên nắm quyền ở miền Nam Việt Nam, triển khai chiến lược thực dân mới, chính quyền Ngô Đình Diệm tập trung mọi nguồn lực của bộ máy chiến tranh, chĩa  mũi nhọn vào phong trào đấu tranh yêu nước của quần chúng và cán bộ, chiến sĩ cách mạng, tiến hành gom dân lập ấp, triển khai chiến lược “tố cộng, diệt cộng”,…
Qua năm 1956, trên địa bàn miền Đông Nam bộ mà Bình Phước là một trong những trọng điểm, chính quyền Ngô Đình Diệm triển khai chiến dịch Trương Tấn Bửu, càn quét vào khu vực nông thôn và căn cứ cách mạng.
Đến năm 1959, Ngô Đình Diệm ban hành Luật 10/59, đặt “cộng sản” ra khỏi vòng pháp luật, thực hiện đàn áp khủng bố đẫm máu phong trào cách mạng miền Nam.
Trong bối cảnh đó, tháng 1-1959, Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương Đảng lần thứ 2 đề ra Nghị quyết 15, làm bùng lên ngọn lửa đấu tranh cách mạng nung nấu trong quần chúng nhân dân miền Nam. Đầu năm 1960, phong trào Đồng Khởi nổ ra tại Bến Tre và nhanh chóng lan rộng ra toàn Miền. Góp sức cùng toàn Miền, từ năm 1961, quân dân Bình Phước đẩy mạnh tiến công vào các cơ sở của địch và tăng cường công tác diệt ác, phá kềm, đạt được những thắng lợi quan trọng.
Tài liệu sưu tầm được bao gồm các báo cáo của chính quyền Sài Gòn về hoạt động của lực lượng cách mạng; các bản án của lực lượng vũ trang cách mạng dành cho đội ngũ tề điệp, ác ôn ở Bình Long, Phước Long những năm 1961-1962, là chứng tích lịch sử hùng hồn về những ngày tháng sôi nổi quân dân địa phương đấu tranh trong phong trào Đồng Khởi.
Năm 1964, trước sự lung lay của chế độ Sài Gòn, Hoa Kỳ đưa quân đội viễn chinh vào trực tiếp tham chiến ở miền Nam Việt Nam. Trên địa bàn Bình Phước, quân viễn chinh Mỹ đóng đan xen, chốt giữ các vị trí xung yếu, hình thành các căn cứ quân sự lớn như ở An Lộc, hay Bàu Bàng,….
Tiếp nối truyền thống kiên cường, bất khuất, quân và dân Bình Phước góp công cùng chủ lực Miền làm nên những chiến thắng vang dội như trận Bầu Bàng, chiến dịch Đồng Xoài,… trong những năm 1965-1968 và chiến thắng An Lộc trong mùa hè đỏ lửa năm 1972. Góp phần buộc đế quốc Mỹ và chính quyền Sài Gòn ngồi vào bàn đàm phán và đi đến ký kết Hiệp định Paris ngày 23-1-1973.
Nhưng chưa từ bỏ âm mưu thôn tính miền Nam Việt Nam, Hoa Kỳ tiếp tục hậu thuẫn cho chính quyền Sài Gòn thực hiện chiến thuật tràn ngập lãnh thổ bằng quân sự, hòng phá hoại Hiệp định Paris. Trước thái độ ngoan cố của chính quyền Sài Gòn, năm 1974, Bộ Tư lệnh Miền phát lệnh cho toàn thể các lực lượng vũ trang Quân Giải phóng miền Nam Việt Nam tiến lên "kiên quyết trừng trị bọn Mỹ - Thiệu ngoan cố và hiếu chiến, kiên quyết đập tan hệ thống đồn bót của địch, mở rộng vùng giải phóng, giành quyền làm chủ về tay nhân dân.
Thực hiện mệnh lệnh của Bộ chỉ huy Miền, các lực lượng vũ trang Giải phóng miền Nam Việt Nam đẩy mạnh tiến công tạo thành một phong trào tiến công, nổi dậy mạnh mẽ khắp miền Nam. Đến tháng 12-1974, các lực lượng vũ trang Quân Giải phóng tiến lên đập tan hệ thống đồn bốt quân đội Sài Gòn ở cấp cơ sở. Riêng tại Phước Long, một địa bàn không xa Sài Gòn, được Quân Giải phóng chọn làm chiến trường kiểm nghiệm sự bảo đảm cam kết tái can thiệp vào Việt Nam bằng hoạt động quân sự của Hoa Kỳ, cũng như phản ứng của chính quyền Thiệu. Ngày 13-12-1974, Quân Giải phóng mở màn tiến công giải phóng Phước Long bằng việc đánh chiếm, làm chủ quận lỵ, chi khu Đức Phong và hoàn toàn giải phóng tỉnh Phước Long vào sáng ngày 06-01-1975. Phước Long hoàn toàn giải phóng đã mở ra thời cơ lớn cho Quân Giải phóng tiến hành cuộc Tổng tiến công mùa Xuân 1975.
Bên cạnh công cuộc chiến đấu giải phóng quê hương đất nước, trong những năm kháng chiến, Bình Phước còn là địa bàn được chọn lựa làm căn cứ, nơi đặt “tổng hành dinh” của Chính phủ cách mạng lâm thời cộng hòa miền Nam Việt Nam – nơi diễn ra nhiều sự kiện quan trọng trong những năm cuối của cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước.
Phần 4: Bình Phước xây dựng và phát triển
Ngày 30-4-1975, sau hai tháng thần tốc, xe tăng Quân giải phóng húc đổ cổng sắt dinh Độc Lập – sào huyệt đầu não của chính quyền Sài Gòn, đánh dấu thời khắc lịch sử, miền Nam hoàn toàn giải phóng, mở ra kỷ nguyên hòa bình, thống nhất nước nhà.
Năm 1976, Quốc hội nước CHXHCNVN quyết định thành lập tỉnh Sông Bé.
Sau ngày giải phóng, chiến tranh để lại hậu quả nặng nề trên quê hương, tiếp nối truyền thống anh hùng, bất khuất, quân dân Bình Phước “tay cày, tay cuốc” vỡ đất hoang, khôi phục sản xuất, từng bước hàn gắn vết thương chiến tranh. Song hòa bình không được bao lâu, là một vùng đất đứng mũi, Bình Phước sớm phải gánh chịu những đau thương, mất mát bởi họa diệt chủng của bè lũ Pôn Pốt – Iêng-xa-ri. Bao nhiêu ngôi làng, nhà cửa bị đốt phá, người già, trẻ nhỏ và phụ nữ bị hãm hiếp, giết hại dã man, rùng rợn. Sau chiến tranh biên giới Tây Nam, quân dân Bình Phước một lần nữa bắt tay vào hàn gắn vết thương chiến tranh.
Ngày 01-01-1997, để phù hợp với điều kiện phát triển kinh tế - xã hội, tỉnh Bình Phước được tái lập. Từ đây, với những chủ trương, quyết sách đúng đắn, sáng tạo, Đảng bộ và chính quyền lãnh đạo nhân dân địa phương xây dựng quê hương ngày một giàu đẹp, trở thành trọng điểm kinh tế phía Nam của đất nước./.


                                                                                                          Lê Thị Lịch – CCT.CC.VTLT
Sưu tầm: Mỹ Hương
Xem nội dung gốc tại:
 
http://sonoivubinhphuoc.gov.vn/snv/494/13681/17172/46596/Van-thu---Luu-tru/Lich-su-Binh-Phuoc-qua-tai-lieu-luu-tru.aspx
 

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá

Click để đánh giá bài viết

  Ý kiến bạn đọc

Mời quảng cáo
thống kê truy cập
  • Đang truy cập62
  • Hôm nay2,237
  • Tháng hiện tại133131
  • Tổng lượt truy cập1517612
Thăm dò ý kiến

Bạn thấy website này hoạt động như thế nào

Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây